Sinh hoạt khoa học Trung tâm: So sánh Chương trình và Sách giáo khoa cấp Tiểu học của Việt Nam và Nhật Bản – Góc nhìn đối chiếu từ môn Đạo đức và môn Âm nhạc

Vào lúc 9h00 ngày 24/08/2026, tại Phòng họp tầng 4 – 52 Liễu Giai, Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Chương trình và Đánh giá giáo dục đã tổ chức buổi Sinh hoạt khoa học với chủ đề “So sánh Chương trình và Sách giáo khoa cấp Tiểu học của Việt Nam và Nhật Bản – Góc nhìn đối chiếu từ môn Đạo đức và môn Âm nhạc”. Buổi sinh hoạt khoa học diễn ra dưới sự chủ trì của TS. Lương Việt Thái – Chủ tịch HĐKH&ĐT Trung tâm, cùng với sự có mặt của các Lãnh đạo Trung tâm và đông đảo cán bộ nghiên cứu.

Mở đầu buổi làm việc, ThS. Đào Văn Toàn phát biểu khai mạc, nêu rõ mục tiêu và ý nghĩa của việc nghiên cứu chương trình và sách giáo khoa các môn học của các quốc gia có nền giáo dục tiên tiến như Nhật Bản. Đây là những nghiên cứu thường xuyên thuộc mảng nghiên cứu xu hướng và kinh nghiệm quốc tế nhằm rút ra các bài học kinh nghiệm, cung cấp các luận cứ khoa học  phục vụ việc phát triển chương trình và biên soạn sách giáo khoa tại Việt Nam.

ThS. Đào Văn Toàn phát biểu khai mạc

Tiếp theo, các đại biểu đã nghe hai báo cáo chuyên đề nghiên cứu so sánh chuyên sâu ở cấp tiểu học giữa Việt Nam và Nhật Bản.

1. Báo cáo “So sánh Chương trình giáo dục môn Đạo đức cấp Tiểu học của Việt Nam và Nhật Bản” do ThS. Nguyễn Thị Việt Hà trình bày.

ThS. Nguyễn Thị Việt Hà trình bày báo cáo

Báo cáo tập trung phân tích dựa trên văn bản Chương trình môn Đạo đức (CTGDPT 2018 -Việt Nam) và Chương trình môn Giáo dục Đạo đức (CTGDPT 2017 – Nhật Bản), so sánh các điểm tương đồng và khác biệt theo từng thành tố của chương trinh: triết lý, định hướng phát triển chương trình, tên gọi, vị trí và vai trò môn học; nội dung (phạm vi, cấu trúc, tổ chức nội dung), phương pháp và kiểm tra đánh giá. Phân tích cho thấy hai CT khá tương đồng trên nhiều khía cạnh. Những điểm khác biệt cần chú ý là:

  • Về định hướng và mục tiêu: Cả hai quốc gia đều tiếp cận xu hướng hiện đại về phát triển phẩm chất, năng lực. Tuy nhiên, cách xác định năng lực và phẩm chất của mỗi nước là khác nhau. Việt Nam xác định cụ thể 5 phẩm chất, 3 năng lực chung và các năng lực đặc thù; Nhật Bản không xác định các phẩm chất cụ thể mà gọi chung là “phẩm chất con người” và chú trọng nuôi dưỡng năng lực tư duy, phán đoán, biểu đạt để ứng phó với các tình huống chưa biết.
  • Về vị trí môn học: Nhật Bản coi môn Đạo đức là “Môn học đặc biệt: Giáo dục Đạo đức” và ví với hình ảnh “cái chốt của chiếc quạt giấy” để nhấn mạnh vị trí trung tâm của môn học. Việt Nam, cũng xác định môn học  giữ vai trò chủ đạo trong việc giáo dục cho học sinh ý thức, hành vi công dân.
  • Về cấu trúc nội dung: Chương trình môn Đạo đức cả 2 nước đều xây dựng theo kiểu đồng tâm, phát triển. Tuy nhiên, Chương trình Việt Nam cấu trúc theo 4 mạch nội dung (giáo dục đạo đức, giáo dục kỹ năng sống, giáo dục kinh tế, giáp dục pháp luật) với 8 chủ đề/lớp. Trong khi đó, Nhật Bản cấu trúc chặt chẽ theo 4 mối quan hệ (với bản thân, với người khác, với tập thể/xã hội, với thiên nhiên và sự cao cả) gồm 19-22 chủ đề cho mỗi giai đoạn (giai đoạn lớp 1-2; lớp 3-4; lớp 5-6).
  • Về phương pháp và kiểm tra đánh giá: Nhật Bản quán triệt phương châm “đạo đức để tư duy và thảo luận”, học sinh tự nhìn nhận bản thân, tư duy đa chiều. Đáng chú ý, Nhật Bản loại bỏ hoàn toàn điểm số và không xếp loại thứ hạng hay đặt ra chuẩn đạt đối với môn Đạo đức (đánh giá bằng nhận xét mô tả sự tiến bộ cá nhân); trong khi Việt Nam đánh giá định kỳ theo 3 mức (Hoàn thành tốt, Hoàn thành, Chưa hoàn thành).

2. Báo cáo “So sánh bộ Sách giáo khoa Âm nhạc Tiểu học của Nhật Bản và Việt Nam” do ThS. Lê Anh Tuấn trình bày

ThS. Lê Anh Tuấn trình bày báo cáo

Nghiên cứu tiến hành so sánh đối chiếu bộ SGK Âm nhạc của NXB Kyoiku Geijutsu Sha (Nhật Bản, 2015) và bộ SGK Âm nhạc – Kết nối tri thức với cuộc sống (NXB Giáo dục Việt Nam, 2024). Nghiên cứu đưa ra 16 tiêu chí so sánh. Cụ thể ở một số tiêu chí:

  • Về thời lượng và cấu trúc: Tổng thời lượng môn Âm nhạc cấp tiểu học của Nhật Bản là 358 tiết (từ 50-70 tiết/năm), gấp đôi so với 175 tiết (35 tiết/năm) của Việt Nam. Nhật Bản chia chương trình theo 2 lĩnh vực (Biểu hiện và Thưởng thức), còn Việt Nam chia thành 6 nội dung cụ thể.
  • Về thiết kế và tổ chức bài học: SGK Nhật Bản giữ số trang cố định (75 trang/lớp), nhân vật đồng hành (bạn gấu Dan) xuyên suốt từ lớp 1 đến lớp 6, ưu tiên thiết kế trang đôi tích hợp đa dạng hình ảnh thực tế và bản nhạc. SGK Việt Nam có số trang tăng dần theo khối lớp (từ 55 đến 74 trang).
  • Thực hành nhạc cụ và trải nghiệm: SGK Nhật Bản thể hiện ưu thế vượt trội về lộ trình nhạc cụ liên tục (kèn phím từ lớp 1-2, sáo recorder từ lớp 3-6) với hơn 50 bài tập nhạc cụ giai điệu. Việt Nam bắt đầu đưa nhạc cụ giai điệu từ lớp 4 với khoảng 8 bài tập. Tuy nhiên, SGK Việt Nam có ưu điểm cấu trúc bài học rõ ràng, tích hợp hiệu quả các yếu tố văn hóa, đời sống Việt Nam và phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất thực tế.

Tiếp theo hai bài trình bày là phần thảo luận

Phần thảo luận dưới sự điều khiển của TS. Lương Việt Thái diễn ra sôi nổi với nhiều câu hỏi và góc nhìn tương tác sâu sắc từ các đại biểu.

TS. Dương Quang Ngọcđặt vấn đề về hiệu quả của các cách tiếp cận chương trình và liệu có tồn tại khoảng trống kiến thức/kỹ năng giữa các khối lớp hay không.

TS. Dương Quang Ngọc phát biểu

ThS. Nguyễn Thanh Trịnh quan tâm đến tính phù hợp của việc xếp loại đánh giá Đạo đức theo 3 mức hiện nay tại Việt Nam, đồng thời nêu nhiều câu hỏi về việc thiết kế mở trang đôi và thời lượng môn học trong SGK.

ThS. Nguyễn Thanh Trịnh phát biểu

ThS. Nguyễn Thị Trang mở rộng tranh luận về khả năng ứng dụng các triết lý, hình thức học liệu tiểu học của Nhật Bản vào quá trình xây dựng chương trình, tài liệu cho cấp học Mầm non của Việt Nam.

ThS. Nguyễn Thị Trang phát biểu

ThS. Nguyễn Thị Thu Thảo đã chia sẻ thêm về góc nhìn so sánh khi so sánh chương trình và sách giáo khoa của Việt Nam với Trung Quốc

ThS. Nguyễn Thị Thu Thảo phát biểu

ThS. Nguyễn Thị Chi  phát biểu

TS. Trần Thuý Ngà phát biểu

Giải đáp các ý kiến thảo luận, ThS. Nguyễn Thị Việt Hà giải thích rõ hơn về triết lý xây dựng chương trình theo các mối quan hệ xã hội của Nhật Bản giúp tạo sự liên thông chặt chẽ. Chuyên gia cũng chỉ ra rằng Nhật Bản coi trọng việc đánh giá sự tiến bộ nội tại hàng ngày của học sinh thay vì định lượng nhân cách theo chuẩn. ThS. Lê Anh Tuấn khẳng định thêm về ưu điểm của việc thiết kế trang đôi trong SGK giúp tăng tính thẩm mỹ và tạo không gian trải nghiệm âm nhạc tự nhiên cho học sinh.

Tổng kết và kết luận buổi sinh hoạt khoa học, TS. Lương Việt Thái ghi nhận, đánh giá cao giá trị thực tiễn của hai báo cáo nghiên cứu. Buổi sinh hoạt khoa học Trung tâm đã thành công tốt đẹp, cung cấp nhiều luận cứ khoa học và thực tiễn quan trọng, gợi mở các hướng đi mới cho công tác phát triển chương trình và biên soạn sách giáo khoa phổ thông tại Việt Nam trong giai đoạn tới.

Tin bài: Phòng Nghiên cứu Phát triển Chương trình giáo dục

Bài viết liên quan