Ngày 06/4/2026, Phòng Nghiên cứu Đánh giá giáo dục – Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Chương trình và Đánh giá giáo dục đã tổ chức buổi sinh hoạt khoa học với chủ đề “Độ giá trị của công cụ trong đánh giá giáo dục”. Nội dung sinh hoạt khoa học do ThS. Nguyễn Thị Trang trình bày.
Ngoài cán bộ của phòng Nghiên cứu Đánh giá giáo dục, sinh hoạt khoa học có sự tham gia của TS. Dương Quang Ngọc, đại diện lãnh đạo trung tâm và các cán bộ quan tâm. Mở đầu, TS. Nguyễn Thị Thanh Nga, Trưởng phòng Nghiên cứu đánh giá giáo dục đã nêu lí do, mục đích của Seminar. Đây là hoạt động nằm trong chuỗi sinh hoạt khoa học của phòng nhằm trao đổi những vấn đề cơ bản về đánh giá giáo dục và tạo cơ hội để các cán bộ được trau dồi, phát triển chuyên môn.

TS. Nguyễn Thị Thanh Nga phát biểu tại buổi sinh hoạt khoa học
Tiếp theo, ThS. Nguyễn Thị Trang đã trình bày nội dung báo cáo về “Độ giá trị của công cụ trong đánh giá giáo dục. Báo cáo viên đã phân tích các mô hình lý thuyết và đưa ra những khuyến nghị thực tiễn trong việc kiểm định độ giá trị cho các công cụ đánh giá.

ThS. Nguyễn Thị Trang trình bày báo cáo tại buổi sinh hoạt khoa học
Nội dung của buổi sinh hoạt khoa học tập trung vào các vấn đề sau:
1. Độ giá trị và Độ tin cậy: Mối quan hệ tương hỗ
Mở đầu bài trình bày, báo cáo viên đã đưa ra một vấn đề mang tính nền tảng: “Độ giá trị và độ tin cậy, giá trị nào quan trọng hơn?”. Bằng các ví dụ thực tiễn, báo cáo viên đã minh chứng rằng một công cụ có độ tin cậy (ổn định và nhất quán) nhưng đo sai “cái’ cần đo thì kết quả đó trở nên vô nghĩa. Cùng với độ tin cậy, độ giá trị là một điều kiện tiên quyết để đảm bảo tính đúng đắn của mọi kết quả nghiên cứu (mô tả và suy luận).
2. Các khía cạnh đa chiều của Độ giá trị
Bài báo cáo đã đi sâu vào phân tích 03 loại độ giá trị chính cần được kiểm soát trong quá trình xây dựng công cụ:
Độ giá trị nội dung (Content Validity): Đảm bảo các câu hỏi/nhiệm vụ đánh giá đại diện đầy đủ cho lĩnh vực nội dung hoặc năng lực cần đo. Đối với các công cụ dịch thuật, cần thực hiện quy trình dịch xuôi – dịch ngược, thử nghiệm nhận thức (cognitive interview) để đảm bảo sự tương đương về ngữ nghĩa và văn hóa.
Độ giá trị cấu trúc (Construct Validity): Kiểm soát xem công cụ có phản ánh đúng cấu trúc lý thuyết của năng lực hay không thông qua các kỹ thuật phân tích nhân tố (EFA/ CFA)/ SEM/ PLS SEM.
Độ giá trị tiêu chí (Criterion Validity): Đánh giá tương quan giữa kết quả của công cụ đo lường với một tiêu chí bên ngoài đã được xác định.
3. Quy trình thực hiện và ngưỡng chấp nhận trong nghiên cứu
Một trong những nội dung trọng tâm được các cán bộ nghiên cứu quan tâm là các bước thực hiện xây dựng và kiểm định giá trị của một công cụ đánh giá. Theo khuyến nghị của báo cáo viên, quy trình nên được thực hiện theo 8 bước sau:

Báo cáo cũng hệ thống hóa các ngưỡng chỉ số kỹ thuật quan trọng để các nghiên cứu viên tham chiếu khi xử lý dữ liệu:
Cronbach’s Alpha: ≥ 0.70 (Đảm bảo độ tin cậy).
Tương quan biến tổng: ≥ 0.30.
Hệ số tải nhân tố (Factor Loading): ≥ 0.40 hoặc 0.50.
Chỉ số KMO (cho EFA): ≥ 0.60.
AVE: ≥ 0.50 và CR: ≥ 0.70.
4. Thảo luận và ứng dụng thực tiễn
Sau phần trình bày của báo cáo viên, phiên thảo luận diễn ra sôi nổi với nhiều ý kiến về việc áp dụng các mô hình đo lường hiện đại (như mô hình Rasch) để kiểm soát độ khó và độ phân biệt của câu hỏi nhằm xác định giá trị câu hỏi và tiêu chí đánh; sự khác biệt giữa xác định độ giá trị của một bài kiểm tra với một công cụ khảo sát trong nghiên cứu giáo dục; chia sẻ những khó khăn khi thực hiện kiểm định giá trị chuẩn chéo ngôn ngữ và cách thức lựa chọn mẫu khảo sát thử nghiệm (Pilot) sao cho có tính đại diện cao nhất.
Kết luận buổi sinh hoạt, lãnh đạo Trung tâm đánh giá cao nội dung trình bày mang tính thực tiễn cao của ThS. Nguyễn Thị Trang. Những kiến thức này không chỉ giúp chuẩn hóa quy trình xây dựng công cụ đánh giá, khảo sát nói chung mà còn góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ cán bộ, hướng tới xây dựng những bộ công cụ đo lường đạt chuẩn hoá nói riêng.
Tin bài: Phòng Nghiên cứu Đánh giá giáo dục